← Kho truyện
Trạng Hiền
12 view
0 comment
Truyện dân gian Việt Nam
Viên quan không quản ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng, thấy một lũ trẻ đang đùa nghịch ở gốc đa đầu làng, quan thử ra một câu đối để dò xem Trạng có mặt trong đám ấy chăng:
– Tự ( 字 ) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử ( 子 ) là con: con ai con ấy?
Hiền tay vẫn chơi đùa, miệng đáp lại ngay:
– Vu ( 于 ) là chưng, chặt ngang lưng, chữ đinh ( 丁 ) là đứa: đứa nào đứa này .
Đáp đoạn, bỏ chạy về nhà.
Khi viên quan tìm được vào nhà thì thấy Hiền đang đun bếp.
Hắn lại ra một câu đối:
– Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo (Tôi nghe người quân tử xa chỗ bếp núc, sao lại nịnh ông Bếp).
Hiền đối đáp lại:
– Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh (Ta vốn ở ngôi khanh tướng nhưng nay tạm nêm canh).
Biết đích là Trạng, viên quan đưa chiếu chỉ của nhà vua, mời Trạng về triều để hỏi một việc quan trọng.
Nhưng Hiền lắc đầu nói: – “Trước đây vua bảo ta không biết lễ phép, nhưng chính vua không biết lễ phép nữa là ai”.
Nói rồi nhất định không chịu đi.
Về sau vua phải cho quân gia mang cờ quạt võng lọng đến đón Hiền vào triều.
Trước mặt sứ thần của một cường quốc, ông trạng nhỏ tuổi ấy cầm cục than viết ra một chữ “điền” ( 田 ) giữa sân rồng.
Thấy giải đáp đúng, sứ thần lặng lẽ rút lui.
Vua và đình thần thở dài khoan khoái.
Về sau, vua ban thưởng cho Trạng rất hậu và tuy Trạng còn ít tuổi cũng phong chức thượng thư .
[1] Bốn câu thơ này nghĩa là:
Hai mặt trời bằng đầu nhau ( đồng thời có nghĩa là có hai chữ nhật 日 ).
Bốn hòn núi nghiêng ngả (tức là có bốn chữ sơn 山 ).
Hai vua tranh một nước (tức là có hai chữ vương 王 ).
Bốn miệng ngang dọc trong khoảng đó ( tức là có bốn chữ khẩu 口 ).
Cảm nhận về câu chuyện
0 bình luậnCùng chia sẻ suy nghĩ về câu chuyện nhé!
Chưa có cảm nhận. Cùng chia sẻ suy nghĩ về câu chuyện nhé.